Định hướng số lượng cấp phó của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị

Thời sự 22:03 | 09/09/2025
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Kết luận số 187-KL/TW ngày 29/8/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về định hướng số lượng cấp phó của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị.
Quận Nam Từ Liêm tập trung xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh Xác định lộ trình, hướng dẫn sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố

Theo đó, căn cứ Kết luận số 121-KL/TW, ngày 24/1/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW; Nghị quyết số 60-NQ/TW, ngày 12/4/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và các kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư khoá XIII về sắp xếp tổ chức bộ máy và thực hiện mô hình đơn vị hành chính 2 cấp, để bảo đảm đồng bộ, thống nhất trong sắp xếp, bố trí lãnh đạo cấp phó trong cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị; sau khi xem xét đề nghị của Ban Tổ chức Trung ương (Tờ trình số 382-TTr/BTCTW, ngày 28/8/2025), Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết luận về định hướng số lượng cấp phó của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị như sau:

1. Mục đích, yêu cầu, phạm vi

1.1. Nghiên cứu, quy định về định hướng số lượng cấp phó của các cơ quan, tổ chức (từ cấp thứ trưởng và tương đương trở xuống) cho giai đoạn 2030 - 2035.

1.2. Thực hiện đồng bộ, thống nhất về số lượng cấp phó giữa các địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị, bảo đảm các cơ quan tổ chức tinh, gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp thực tiễn và không cào bằng, có tính đến đặc thù đối với các đơn vị thực hiện hợp nhất, sáp nhập.

1.3. Phạm vi áp dụng gồm: (1) Các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp của cấp uỷ các cấp; Cơ quan Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Cơ quan Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh; Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã. (2) Các cơ quan của Quốc hội. (3) Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. (4) Văn phòng Chủ tịch nước, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước. (5) Hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã và các cơ quan chuyên môn của hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã. (6) Cấp uỷ cấp xã.

Định hướng số lượng cấp phó của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị
Tổ Công tác số 4 của Bộ Chính trị do đồng chí Trần Cẩm Tú, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư chủ trì làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Hà Tĩnh ngày 4/9/2025.

2. Quan điểm

2.1. Quán triệt chủ trương Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; việc quy định, định hướng số lượng cấp phó phải bảo đảm tinh gọn, tổ chức bộ máy và các cơ quan, tổ chức hoạt động thông suốt, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; bảo đảm đồng bộ, thống nhất giữa các cơ quan, tổ chức, địa phương trong hệ thống chính trị, phù hợp với việc sắp xếp, bố trí nhân sự ban chấp hành, ban thường vụ cấp uỷ các cấp và lộ trình chuyển tiếp hợp lý, giảm dần số lượng cấp phó hiện nay để đến hết năm 2030 số lượng cấp phó của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị thực hiện đúng định hướng, quy định của Bộ Chính trị.

2.2. Cơ quan có thẩm quyền quy định tổng số cấp phó các cơ quan, tổ chức trực thuộc mỗi cấp; cấp uỷ, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu cơ quan, tổ chức quyết định theo thẩm quyền và chịu trách nhiệm về số lượng cấp phó cụ thể của từng cơ quan, tổ chức, bảo đảm không vượt quá tổng số cấp phó được quy định.

2.3. Xác định số lượng cấp phó trong cơ quan, tổ chức trên cơ sở: (1) Kế thừa các quy định hiện hành, phù hợp với yêu cầu phân cấp, phân quyền, chức năng, nhiệm vụ và tình hình thực tiễn. (2) Chức năng, nhiệm vụ; quy mô và phạm vi lãnh đạo, quản lý (số tổ chức trực thuộc; số lượng biên chế, đảng viên, đoàn viên, hội viên…); tính chất đặc thù về tổ chức và hoạt động các cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương; phân loại đơn vị hành chính (quy mô dân số, diện tích tự nhiên, số đơn vị hành chính trực thuộc cấp tỉnh, điều kiện kinh tế - xã hội và các yếu tố đặc thù), phân loại đô thị, bảo đảm phù hợp với đặc điểm của từng cấp, từng ngành, từng địa phương.

3. Nguyên tắc định hướng số lượng cấp phó của cơ quan, tổ chức

Định hướng số lượng cấp phó của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị phải bảo đảm đồng thời các nguyên tắc sau:

3.1. Số lượng cấp phó tối đa không quá 50% tổng số biên chế được giao của cơ quan, tổ chức (không áp dụng đối với cơ quan Mặt trận Tổ quốc cấp xã).

3.2. Xác định số lượng cấp phó trong cơ quan, tổ chức phải bảo đảm nguyên tắc số lượng cấp phó trong 1 tổ chức trực thuộc tối đa không vượt quá số lượng cấp phó của tổ chức cấp trên trực tiếp (như: Số lượng phó cục trưởng, phó vụ trưởng của 1 cục, vụ tối đa không vượt quá số lượng thứ trưởng; số lượng phó trưởng phòng của 1 phòng trực thuộc cục, vụ tối đa không vượt quá số lượng phó cục trưởng, phó vụ trưởng; số lượng phó trưởng phòng của 1 phòng trực thuộc sở tối đa không vượt quá số lượng phó giám đốc sở...). Các cơ quan, tổ chức cùng cấp thì số lượng cấp phó của cơ quan, tổ chức không có tổ chức bên trong tối đa không vượt quá số lượng cấp phó của cơ quan, tổ chức có tổ chức bên trong (như: Số lượng phó vụ trưởng tối đa không vượt quá số lượng phó cục trưởng); cơ quan, tổ chức nào có nhiều đầu mối trực thuộc hơn thì số lượng cấp phó tối đa có thể nhiều hơn.

3.3. Xác định số lượng cấp phó trong cơ quan, tổ chức cụ thể như sau:

a) Đối với các cơ quan, tổ chức ở Trung ương, địa phương không thực hiện hợp nhất, sáp nhập

- Số lượng thứ trưởng và tương đương, phó chủ tịch hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã...; số lượng cấp phó đầu mối bên trong cơ quan, tổ chức ở Trung ương, địa phương cơ bản thực hiện theo các quy định hiện hành.

- Đối với cơ quan, tổ chức ở Trung ương, địa phương chưa có quy định số lượng cấp phó tối đa:

+ Ở Trung ương: (1) Số lượng thứ trưởng và tương đương tối đa không vượt quá 5 người; cấp phó các ban, cơ quan của Đảng ở Trung ương thực hiện theo quy định của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. (2) Số lượng phó vụ trưởng và tương đương tối đa không vượt quá 3 người. (3) Số lượng phó trưởng phòng và tương đương tối đa thực hiện theo quy định về số lượng cấp phó của phòng và tương đương thuộc bộ, ngành.

Trường hợp đặc biệt cấp có thẩm quyền quyết định.

+ Ở địa phương: Thực hiện theo quy định về số lượng cấp phó của chức danh, chức vụ tương đương thuộc sở, ngành cấp tỉnh, phòng cấp xã.

b) Đối với các cơ quan, tổ chức ở Trung ương, địa phương thực hiện hợp nhất, sáp nhập

- Số lượng cấp phó các ban, bộ, ngành Trung ương thành lập mới trên cơ sở hợp nhất, sáp nhập nhiều cơ quan, tổ chức cùng cấp:

+ Đối với ban, bộ, ngành chưa có quy định số lượng cấp phó tối đa: (1) Ban, bộ, ngành được hợp nhất, sáp nhập từ 2 cơ quan thì số lượng thứ trưởng và tương đương tối đa không vượt quá 6 người. (2) Ban, bộ, ngành được hợp nhất, sáp nhập từ 3 cơ quan thì số lượng thứ trưởng và tương đương tối đa không vượt quá 7 người.

+ Đối với ban, bộ, ngành đã có quy định số lượng cấp phó tối đa: (1) Ban, bộ, ngành được hợp nhất, sáp nhập từ 2 cơ quan thì số lượng thứ trưởng và tương đương tối đa không vượt quá 1 người so với quy định hiện hành. (2) Ban, bộ, ngành được hợp nhất, sáp nhập từ 3 cơ quan thì số lượng thứ trưởng và tương đương tối đa không vượt quá 2 người so với quy định hiện hành và bảo đảm số lượng thứ trưởng và tương đương của ban, bộ, ngành không vượt quá 7 người.

+ Đối với cấp vụ, cục: (1) Vụ, cục được hợp nhất, sáp nhập từ 2 cơ quan thì số lượng cấp phó tối đa không vượt quá 1 người so với quy định hiện hành. (2) Vụ, cục được hợp nhất, sáp nhập từ 3 cơ quan thì số lượng cấp phó tối đa không vượt quá 2 người so với quy định hiện hành và bảo đảm không vượt quá số lượng cấp phó của cấp trên trực tiếp.

- Về số lượng phó chủ tịch hội đồng nhân dân, phó chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố:

+ Đối với Thành phố Hồ Chí Minh: Số lượng phó chủ tịch hội đồng nhân dân Thành phố tối đa không vượt quá 2 người; số lượng phó chủ tịch uỷ ban nhân dân tối đa không vượt quá 3 người so với quy định hiện hành của Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Đối với thành phố trực thuộc Trung ương có thực hiện sáp nhập: (1) Thành lập trên cơ sở hợp nhất, sáp nhập 2 đơn vị hành chính cấp tỉnh thì số lượng phó chủ tịch hội đồng nhân dân thành phố tối đa không vượt quá 1 người; số lượng phó chủ tịch uỷ ban nhân dân thành phố tối đa không vượt quá 2 người so với quy định hiện hành của tỉnh, thành phố sáp nhập có phân loại đơn vị hành chính cao nhất hoặc theo phân loại đơn vị hành chính, phân loại đô thị của thành phố sau sắp xếp. (2) Thành lập trên cơ sở hợp nhất, sáp nhập 3 đơn vị hành chính cấp tỉnh thì số lượng phó chủ tịch hội đồng nhân dân thành phố tối đa không vượt quá 2 người; số lượng phó chủ tịch uỷ ban nhân dân thành phố tối đa không vượt quá 3 người so với quy định hiện hành của tỉnh, thành phố sáp nhập có phân loại đơn vị hành chính cao nhất hoặc theo phân loại đơn vị hành chính, phân loại đô thị của thành phố sau sắp xếp.

+ Đối với các tỉnh: (1) Thành lập trên cơ sở hợp nhất, sáp nhập 2 tỉnh: Số lượng phó chủ tịch hội đồng nhân dân tỉnh tối đa không vượt quá 1 người; phó chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh tối đa không vượt quá 2 người so với quy định hiện hành của tỉnh sáp nhập có phân loại đơn vị hành chính cao nhất hoặc theo phân loại đơn vị hành chính của tỉnh sau sắp xếp. (2) Thành lập trên cơ sở hợp nhất, sáp nhập 3 tỉnh: Số lượng phó chủ tịch hội đồng nhân dân tỉnh tối đa không vượt quá 1 người; số lượng phó chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh tối đa không vượt quá 3 người so với quy định hiện hành của tỉnh sáp nhập có phân loại đơn vị hành chính cao nhất hoặc theo phân loại đơn vị hành chính của tỉnh sau sắp xếp.

- Đối với ban, sở, ngành của tỉnh, thành phố: (1) Hợp nhất, sáp nhập từ 2 tỉnh, thành phố thì số lượng phó giám đốc sở, phó trưởng phòng và tương đương tối đa không vượt quá 1 người/1 cơ quan; trường hợp ban, sở, ngành mới hợp nhất, sáp nhập thì số lượng tối đa không vượt quá 2 người/1 cơ quan so với quy định hiện hành. (2) Hợp nhất, sáp nhập từ 3 tỉnh, thành phố thì số lượng phó giám đốc sở, phó trưởng phòng và tương đương tối đa không vượt quá 2 người/1 cơ quan; trường hợp ban, sở, ngành mới hợp nhất, sáp nhập thì số lượng tối đa không vượt quá 3 người/1 cơ quan so với quy định hiện hành và bảo đảm không vượt quá số lượng cấp phó của cấp trên trực tiếp. (3) Các sở đặc thù, phòng trực thuộc sở... chỉ có ở 1 tỉnh, thành phố khi thực hiện sáp nhập, hợp nhất thì giữ nguyên số lượng phó giám đốc sở, phó trưởng phòng và tương đương theo quy định hiện hành.

- Đối với cơ quan, tổ chức trực thuộc ban, bộ, ngành ở Trung ương (như: vụ, cục, phòng và tương đương); trực thuộc ban, sở, ngành cấp tỉnh (như: phòng và tương đương) chưa có quy định số lượng cấp phó tối đa thì số lượng cấp phó theo quy định tại Điểm a, Khoản 3.3, Mục 3; số lượng cấp phó tối đa (tăng thêm) theo quy định tại Điểm b, Khoản 3.3, Mục 3 (như: Số lượng phó vụ trưởng thuộc cơ quan chưa có quy định về số lượng phó vụ trưởng, theo Điểm a được xác định tối đa là 3 người, nếu 2 vụ sáp nhập theo Điểm b tối đa không vượt quá 1 người, theo đó vụ mới có tối đa 4 phó vụ trưởng...).

c) Đối với các cơ quan, tổ chức ở cơ quan Trung ương tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ, tổ chức của các cơ quan, tổ chức hoặc thành lập mới trên cơ sở tổ chức lại (như: từ tổng cục thành cục; các chi cục khu vực…): Số lượng cấp phó tối đa không vượt quá 1 người so với số lượng quy định hiện hành.

d) Đối với các xã, phường, đặc khu

- Số lượng phó bí thư: 2 (1 phó bí thư thường trực, 1 phó bí thư, chủ tịch uỷ ban nhân dân).

- Bình quân mỗi xã, phường, đặc khu có: 1 phó chủ tịch hội đồng nhân dân; bình quân 2,5 phó chủ tịch uỷ ban nhân dân; bình quân 2 cấp phó/1 ban, phòng và tương đương. Trên cơ sở số lượng xã, phường, đặc khu, ban thường vụ cấp uỷ cấp tỉnh: (1) Xác định tổng số phó chủ tịch hội đồng nhân dân, phó chủ tịch uỷ ban nhân dân, phó các ban, phòng cấp xã trong toàn tỉnh, thành phố. (2) Lãnh đạo, chỉ đạo việc quyết định cụ thể số lượng cấp phó phù hợp với quy mô diện tích, dân số, phân loại đơn vị hành chính, phân loại đô thị, GRDP, thu ngân sách nhà nước, số lượng tổ chức đảng, đảng viên, đoàn viên, hội viên... đối với từng xã, phường, đặc khu.

đ) Số lượng ban chấp hành, ban thường vụ, phó bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ: Ban Tổ chức Trung ương tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư quy định cụ thể riêng.

3.4. Trường hợp đặc biệt, cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

4. Phân công thực hiện

Trên cơ sở quan điểm, nguyên tắc nêu trên, Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao các cơ quan thực hiện các nhiệm vụ sau:

4.1. Đảng uỷ Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo: (1) Rà soát lại các chức danh lãnh đạo, quản lý của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc khối Chính phủ quản lý, bảo đảm thống nhất về tên gọi từng loại hình tổ chức và phù hợp với quy định của Đảng và pháp luật. (2) Ban hành tiêu chí xác định số lượng cấp phó; quy định số lượng cấp phó cụ thể đối với các cơ quan, tổ chức theo phân cấp quản lý, bảo đảm không vượt quá định hướng, quy định số lượng cấp phó của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

4.2. Đảng uỷ Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo: Ban hành tiêu chí xác định số lượng cấp phó; quy định số lượng cấp phó cụ thể đối với các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc Quốc hội theo phân cấp quản lý và số lượng phó chủ tịch hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp xã; số lượng cấp phó trong các ban của hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp xã; số lượng cấp phó của văn phòng đoàn đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân cấp tỉnh, bảo đảm không vượt quá định hướng, quy định số lượng cấp phó của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

4.3. Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo ban hành tiêu chí xác định số lượng cấp phó; quy định số lượng cấp phó cụ thể đối với các cơ quan, tổ chức thuộc Cơ quan Trung ương Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phó chủ tịch các tổ chức chính trị - xã hội cấp Trung ương và bí thư Trung ương Đoàn, bảo đảm không vượt quá định hướng, quy định số lượng cấp phó của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương đề xuất quy định số lượng cấp phó Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh, cấp xã, cấp phó trong các cơ quan, tổ chức thuộc Cơ quan Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh.

4.4. Đảng uỷ Văn phòng Chủ tịch nước, Đảng uỷ Toà án nhân dân tối cao, Đảng uỷ Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Đảng uỷ Kiểm toán Nhà nước lãnh đạo, chỉ đạo ban hành tiêu chí xác định số lượng cấp phó; quy định số lượng cấp phó cụ thể đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị theo phân cấp quản lý, bảo đảm không vượt quá định hướng, quy định số lượng cấp phó của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

4.5. Các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương, các ban, bộ, ngành, cơ quan, tổ chức ở Trung ương quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về số lượng cấp phó của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị; trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề phát sinh, kịp thời báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư (qua Ban Tổ chức Trung ương) để xem xét theo quy định.

4.6. Ban Tổ chức Trung ương:

- Đề xuất, trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành quy định số lượng cấp phó cụ thể trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp của Trung ương, cấp uỷ cấp tỉnh, cấp xã; cơ quan Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp xã; số lượng phó bí thư cấp uỷ cấp xã.

- Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về định hướng số lượng cấp phó của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, bảo đảm đúng quy định.

- Trong năm 2030, chủ trì, phối hợp với các cấp uỷ, tổ chức đảng tổng kết Kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về định hướng số lượng cấp phó của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị để tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành Kết luận mới về định hướng số lượng cấp phó của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị trong giai đoạn tiếp theo cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Mai Quý
Link gốc:

Tin khác

Những trường hợp không được ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Những trường hợp không được ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Điều 37 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định cụ thể những trường hợp không được ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân.
Đẩy mạnh tuyên truyền, chủ động đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn trong công tác bầu cử

Đẩy mạnh tuyên truyền, chủ động đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn trong công tác bầu cử

Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Đỗ Anh Tuấn đề nghị Đảng ủy các phường phối hợp chặt chẽ với các sở, ban, ngành và Ủy ban MTTQ Thành phố trong triển khai các nội dung liên quan đến công tác bầu cử, như tăng cường ứng dụng chuyển đổi số, công nghệ thông tin…
Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ thành phố Hà Nội: Nâng chất lượng sống cho người lao động

Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ thành phố Hà Nội: Nâng chất lượng sống cho người lao động

Với những mục tiêu bứt phá: Tăng trưởng GRDP trên 11%, thu nhập bình quân đầu người vượt trên 12.000 USD, nâng tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt 80%, hoàn thành tới 120.000 căn hộ nhà ở xã hội... trong giai đoạn 2025 - 2030, Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ thành phố Hà Nội đang trở thành niềm kỳ vọng lớn lao, mở ra chương mới cho đời sống và việc làm của người lao động Thủ đô.
Thế trận an ninh nhân dân vững chắc bảo vệ an toàn Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV

Thế trận an ninh nhân dân vững chắc bảo vệ an toàn Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV

Với phương châm giữ vững an ninh trật tự (ANTT) từ cơ sở, lực lượng Công an Thủ đô đang triển khai đồng bộ các biện pháp bảo vệ tuyệt đối an toàn phục vụ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Việc xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc gắn với thế trận quốc phòng toàn dân được xác định là yếu tố then chốt để bảo đảm bình yên cho sự kiện chính trị trọng đại này.
Chính phủ tập trung vào 6 nhiệm vụ trọng tâm để hiện thực hóa Nghị quyết Đại hội Đảng

Chính phủ tập trung vào 6 nhiệm vụ trọng tâm để hiện thực hóa Nghị quyết Đại hội Đảng

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà cho biết, quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, với những chuyển động mang tính bước ngoặt lịch sử, Chính phủ tiếp tục nỗ lực hết sức mình thực hiện sứ mệnh “kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt, phục vụ Nhân dân”. Trong đó, tập trung vào 6 nhiệm vụ trọng tâm.

Có thể bạn quan tâm

Tái hiện sống động nghi lễ "Tống cựu nghinh tân" tại Hoàng thành Thăng Long

Tái hiện sống động nghi lễ "Tống cựu nghinh tân" tại Hoàng thành Thăng Long

Ngày 10/2, đúng ngày 23 tháng Chạp (ngày lễ ông Công, ông Táo), trong tiết Xuân vui tươi, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội tổ chức hoạt động “Tống cựu nghinh tân”, tái hiện các nghi thức đón Tết của cung đình Thăng Long xưa như Lễ tiến lịch, Lễ thả cá chép, Lễ thướng tiêu (dựng cây nêu), Lễ đổi gác.
Bám sát thực tiễn, phản ánh trung thực nguyện vọng của Nhân dân

Bám sát thực tiễn, phản ánh trung thực nguyện vọng của Nhân dân

Tại Đại hội XIV, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã trình Đại hội Báo cáo chính trị. Báo cáo đã bám sát thực tiễn, phản ánh trung thực nguyện vọng của Nhân dân, coi hiệu quả và tính khả thi là tiêu chuẩn quan trọng.
Những trường hợp không được ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Những trường hợp không được ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Điều 37 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định cụ thể những trường hợp không được ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân.
Đẩy mạnh tuyên truyền, chủ động đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn trong công tác bầu cử

Đẩy mạnh tuyên truyền, chủ động đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn trong công tác bầu cử

Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Đỗ Anh Tuấn đề nghị Đảng ủy các phường phối hợp chặt chẽ với các sở, ban, ngành và Ủy ban MTTQ Thành phố trong triển khai các nội dung liên quan đến công tác bầu cử, như tăng cường ứng dụng chuyển đổi số, công nghệ thông tin…
Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ thành phố Hà Nội: Nâng chất lượng sống cho người lao động

Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ thành phố Hà Nội: Nâng chất lượng sống cho người lao động

Với những mục tiêu bứt phá: Tăng trưởng GRDP trên 11%, thu nhập bình quân đầu người vượt trên 12.000 USD, nâng tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt 80%, hoàn thành tới 120.000 căn hộ nhà ở xã hội... trong giai đoạn 2025 - 2030, Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ thành phố Hà Nội đang trở thành niềm kỳ vọng lớn lao, mở ra chương mới cho đời sống và việc làm của người lao động Thủ đô.
Thế trận an ninh nhân dân vững chắc bảo vệ an toàn Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV

Thế trận an ninh nhân dân vững chắc bảo vệ an toàn Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV

Với phương châm giữ vững an ninh trật tự (ANTT) từ cơ sở, lực lượng Công an Thủ đô đang triển khai đồng bộ các biện pháp bảo vệ tuyệt đối an toàn phục vụ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Việc xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc gắn với thế trận quốc phòng toàn dân được xác định là yếu tố then chốt để bảo đảm bình yên cho sự kiện chính trị trọng đại này.
Chính phủ tập trung vào 6 nhiệm vụ trọng tâm để hiện thực hóa Nghị quyết Đại hội Đảng

Chính phủ tập trung vào 6 nhiệm vụ trọng tâm để hiện thực hóa Nghị quyết Đại hội Đảng

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà cho biết, quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, với những chuyển động mang tính bước ngoặt lịch sử, Chính phủ tiếp tục nỗ lực hết sức mình thực hiện sứ mệnh “kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt, phục vụ Nhân dân”. Trong đó, tập trung vào 6 nhiệm vụ trọng tâm.
Quyết tâm bảo vệ an toàn tuyệt đối PCCC&CNCH phục vụ Đại hội XIV của Đảng

Quyết tâm bảo vệ an toàn tuyệt đối PCCC&CNCH phục vụ Đại hội XIV của Đảng

Những ngày này, không khí Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đang lan tỏa khắp Thủ đô, xác định công tác bảo vệ an toàn cho sự kiện chính trị trọng đại diễn ra từ ngày 19 đến ngày 25/1/2026 là nhiệm vụ trọng tâm, lực lượng Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và Cứu nạn, cứu hộ (PCCC&CNCH) - Công an Hà Nội đã triển khai đồng bộ biện pháp nghiệp vụ, từ việc kiểm tra nghiêm ngặt các cơ sở lưu trú trọng điểm đến duy trì chế độ trực chiến 100% quân số, quyết tâm không để xảy ra bất kỳ sự cố cháy, nổ nào làm ảnh hưởng đến thành công chung của Đại hội.
Thông cáo báo chí phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng

Thông cáo báo chí phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức khai mạc sáng ngày 20/1/2026 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Thủ đô Hà Nội.
Cán bộ Mặt trận Thủ đô đặt trọn niềm tin vào thành công Đại hội XIV của Đảng

Cán bộ Mặt trận Thủ đô đặt trọn niềm tin vào thành công Đại hội XIV của Đảng

Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, cán bộ, đảng viên trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội bày tỏ niềm tin sâu sắc và kỳ vọng lớn vào thành công của Đại hội. Đại hội được kỳ vọng sẽ đề ra những định hướng chiến lược quan trọng, mở ra giai đoạn phát triển mới mang tính đột phá cho đất nước, đồng thời khơi dậy tinh thần trách nhiệm, quyết tâm hành động của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống bằng những việc làm thiết thực.
Thủ đô Hà Nội với sứ mệnh tiên phong, sẵn sàng hiện thực hóa tầm nhìn Đại hội XIV của Đảng

Thủ đô Hà Nội với sứ mệnh tiên phong, sẵn sàng hiện thực hóa tầm nhìn Đại hội XIV của Đảng

Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng khai mạc tại Thủ đô Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc đã trả lời phỏng vấn về những thành tựu nổi bật của Hà Nội trong nhiệm kỳ qua, đồng thời khẳng định trách nhiệm chính trị tiên phong của Thủ đô trong việc quán triệt và cụ thể hóa tầm nhìn, định hướng chiến lược của Trung ương. Với phương châm “Kỷ cương, chuyên nghiệp - Đột phá, sáng tạo - Hiệu quả, bền vững”, Hà Nội xác định quyết tâm hành động mạnh mẽ, phát huy vai trò trung tâm, đầu tàu, tạo nền tảng và động lực cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hôm nay (19/1), Đại hội lần thứ XIV của Đảng họp phiên trù bị

Hôm nay (19/1), Đại hội lần thứ XIV của Đảng họp phiên trù bị

Hôm nay (19/1), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng chính thức bắt đầu tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia. Đại hội diễn ra từ ngày 19 đến ngày 25/1/2026. Tham dự Đại hội có 1.586 đại biểu, đại diện cho hơn 5,6 triệu đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hà Nội rực rỡ sắc cờ, đồng lòng hướng về Đại hội XIV của Đảng

Hà Nội rực rỡ sắc cờ, đồng lòng hướng về Đại hội XIV của Đảng

Những ngày này, khắp các tuyến phố Hà Nội rực rỡ cờ Đảng, cờ Tổ quốc, lan tỏa không khí phấn khởi, tin tưởng của nhân dân Thủ đô hướng về Đại hội XIV của Đảng.
Từ Nghị quyết 57 đến thực tiễn: Những thành tựu nổi bật của Hà Nội

Từ Nghị quyết 57 đến thực tiễn: Những thành tựu nổi bật của Hà Nội

Nghị quyết số 57-NQ/TW (Nghị quyết 57) của Bộ Chính trị ban hành trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, với yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Với vai trò là Thủ đô, trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa của cả nước, Hà Nội đã chủ động, tích cực cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết bằng nhiều giải pháp đồng bộ, bài bản và có trọng tâm, trọng điểm.
Thành phố Hà Nội đề xuất 4 nhóm chính sách sửa đổi Luật Thủ đô

Thành phố Hà Nội đề xuất 4 nhóm chính sách sửa đổi Luật Thủ đô

Phó Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) Lê Tuấn Phong cho biết, thời gian qua, Bộ Tư pháp đã phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố Hà Nội trong việc nghiên cứu, đề xuất cơ chế chính sách đặc thù cho Thủ đô.
Xem thêm
Phiên bản di động